Cây lúa Việt nam với biến đổi khí hậu "xem chi tiết"
08/02/2010

Cây lúa Việt nam với biến đổi khí hậu

 

Nguồn gốc và sự lan truyền của cây lúa indica hiện chưa được biết rõ ràng. Tiếp tục những cuộc khai quật di chỉ khảo cổ học ở vùng Nam và Đông Nam Á là cần thiết. Phát hiện gần đây tại những địa điểm thuộc bang Assam của Ấn Độ, vùng biên giới giữa Thái Lan và Myanmar và miền Bắc Việt nam là thuộc những điển hình sớm nhất về sự thuần hóa lúa hoang.

 

Khỏang thời gian từ năm 17.000 đến 7.000 năm trước công nguyên (CN), nước biển dâng cao 9 mm mỗi năm liên tuc dẫn đến tổng cộng là 90 m do địa mạo vỏ quả đất biến đổi. Một số cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng trong đó có vùng Đông Nam Á nơi mà ước đóan có đến 50% diện tích đất bị ngập chìm trong nước. Hàng ngàn đảo nhỏ ở biển Đông hiện nay trước đây đã từng là những đỉnh núi. Điều này dẫn đến sự hình thành nền văn hóa Hòa Bình hiện nay nằm ở miền Bắc Việt nam. Nước biển dâng cao, dẫn đến diện tích rừng bị thu hẹp, cư dân cổ đại gặp khó khăn khi đi hái lượm thức ăn từ trái cây rừng, đã nghĩ cách thuần hóa các lòai thực vật hoang dại để đảm bảo nguồn thức ăn duy trì cuộc sống, mà quan trọng nhất là cây lúa. Truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh có lẽ được bắt đầu hình thành trong giai đọan này và tiếp tục phát triển về sau đến đời các vua Hùng thể hiện sức chiến đấu của người Việt cổ để tồn tại trước thảm họa mưa bão, lũ lụt xảy ra hàng năm.

 

Ban đầu, lúa được trồng trên đất cao cạnh những hang động, rồi sau đó lan tỏa dần xuống vùng đất ngập nước, vùng đồng bằng. Những điểm khảo cổ thời đại đồ đồng (khỏang 2000 năm trước CN), đã được khai quật tại Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn. Tại điểm Đồng Đậu (hiện nay tại tỉnh Vĩnh Phúc) hạt lúa cháy dỡ dang đã được tìm thấy có niên đại 1328 năm trước CN tức là cách nay 3.338 năm. Nhiều nông cụ bằng đồng được khai quật trong đó có trống đồng mà trên mặt trống có hình một cặp nam nữ giả gạo. Những di chỉ này tìm gặp nhiều ở Ngọc Lũ, Hòanh Ba, Cổ Loa, Sông Đà. Lưỡi hái gặt lúa bằng đồng tìm thấy tại Gò Mun.

 

Dưới thời vua Lý Thái Tổ năm 1010, vịêc khai khẩn đất hoang để canh tác lúa rất thịnh hành. Các đời vua sau tiếp tục phát triển trồng trọt lúa nước đặc biệt là mở rộng và gia cố hệ thống đê điều. Vua Lê Lợi khởi xướng chương trình dinh điền để phát triển nông nghiệp phía Nam. Năm 1481 đã có 43 đồn điền được thành lập ở những vùng đất hoang. Vào thế kỷ thứ 16, triều Nguyễn ở phía Nam đã tăng cường các họat động này bằng cách thiết lập nhiều làng mới cho binh lính và những người dân lánh nạn chiến tranh ở miền Bắc. Vào đầu thế kỷ thứ 17, vương triều Nguyễn mở rộng đất đai đến vùng đồng bằng sông Cửu long Họ khích lệ các chủ điền, tầng lớp quan lại, người di cư chiến tranh mở mang vùng đất mới để phát triển nông nghiệp, chính sách về quyền sở hữu đất đai vẫn tiếp tục dưới thời thực dân Pháp.

 

Trước cuộc Cách Mạng Xanh (CMX), lúa mùa địa phương cao cây, phần lớn quang cảm, dễ đổ ngã, năng suất thấp, chất lượng gạo cao được trồng phổ biến trên thế giới. CMX đã được khởi xướng từ cây lúa mì. CMX trên cây lúa nước được bắt đầu từ Vịêt lúa quốc tế (IRRI), một cơ quan nghiên cứu khoa học được thành lập vào năm 1960 có trụ sở đặt tại Philippines. Thành công đột phá mang tính chất lịch sử là giống IR 8. Giống này là con lai giữa giống Dee-woo-gen của Đài Loan có đặc điểm ngắn ngày, không quang cảm và giống Peta có nguồn gốc từ Indonesia với thân rạ cứng và cao cây. Giống IR 8 ngắn ngày, thấp cây, không quang cảm, đáp ứng với phân đạm cao và năng suất rất cao được thương mại hóa vào năm 1966. Vào tháng 5 /1966, tại Trại nghiên cứu lúa Long Định (Viện nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam), 10 kg lúa IR 8 đã được nghiên cứu thử nghiệm thành công trên đồng ruộng và những năm sau đó giống này được trồng rộng rãi đại trà ở miền Nam với tên gọi là Thần Nông 8 và miền Bắc là Nông Nghiệp 8. Sau đó hàng lọat giống lúa cải thiện đã được du nhập, chọn lọc thử nghiệm và đưa vào sản xuất như IR5, IR 20, IR 22, TN 73-1; TN 73-2, IR 26, IR 30. Giống kháng rấy rất thành công vào những năm 1976-1977 là IR 36.

 

Thách thức lớn nhất đối với trồng trọt nói chung và ngành trồng lúa nói riêng ở một nước nhiệt đới như nước ta là biến đổi khí hậu tòan cầu. Nước ta chưa phát triển công nghiệp nên không phát thải nhiều khí gây hiệu ứng nhà kính. Trong khi đó suốt thế kỷ 20, các nước phát triển đã tiến hành công nghiệp hóa như vũ bão dựa vào năng lượng hóa thạch. Hậu quả là ngành công nghiệp phục vụ phát triển kinh tế xã hội đã thải ra môi trường một lượng lớn khí CO2, cùng các lọai khí khác đã gây hiệu ứng nhà kính và trái đất nóng dần lên.

 

Nồng độ CO2 trong tầng khí quyển có thể tăng lên đến 540-970 ppm (phần triệu) vào năm 2100 so với khỏang 370 ppm vào năm 2000. Biến đổi khí hậu được cho là hệ quả của sự tiếp tục và gia tăng sự phát thải các sản phẩm từ quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch, sự thay đổi trong sử dụng đất (phá rừng, thay đổi trong biện pháp canh tác nông nghiệp), và những yếu tố khác (thí dụ như sự biến động của bức xạ mặt trời). Sự tính tóan gần đây cho thấy có nhiều kịch bản có thể xảy ra nếu như không có những chính sách mạnh mẽ hữa hiệu tòan cầu và sẽ dẫn đến sự bíên đổi lớn về khí hậu với nhiệt độ trung bình của không khí trên mặt đất dự kiến gia tăng từ 1,4 đến 6,4 oC vào năm 2100 so với mốc năm 1990.

 

Nhiệt độ ấm lên trong khí quyển sẽ kích thích bốc hơi nước trên bề mặt nước, giãn nở thể tích nước của đại dương, gia tăng ẩm độ không khí dẫn đến vũ lượng gia tăng, băng ở hai cực trái đất tan chảy và mực nước biển dâng cao. Khác với vùng ôn đới, những lòai cây trồng nhiệt đới hiện tại sẽ giảm năng suất tức thì khi nhiệt độ gia tăng vì hiện nay chúng đã được trồng trọt trong điều kiện gần đến giới hạn trên của sự chống chịu nhiệt độ cao.Hai vùng sẽ phải chịu đựng sự tác động tiêu cực rộng lớn của biến đối khí hậu đến sản xuất nông nghiệp là châu Á và châu Phi.

 

Đến năm 2015, Vịêt nam sẽ có kịch bản chi tiết về biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho từng giai đọan ở từng vùng sinh thái Vịêt nam. Trước mắt kịch bản dự kiến chính thức hiện nay của nước ta đến năm 2100 gồm những điểm chính sau : nhiệt độ tăng thêm 2,3 oC so với trung bình giai đọan 1980-1999 và dao động từ 1,6 đến 2,8 oC ở các vùng khí hậu khác nhau. Hai vùng chính là phía Bắc đèo Hải Vân (phía Bắc) và phía Nam đèo Hải Vân (phía Nam). Nhiệt độ phía Bắc tăng nhanh hơn phía Nam và mùa đông tăng nhanh hơn mùa hè. Tổng lượng mưa cả năm và lượng mưa mùa mưa ở tất cả các vùng đều tăng, trong khi đó lượng mưa mùa khô có xu hướng giảm, đặc biệt là ở phía Nam. Lượng mưa tăng 5% năm 2100 so với giai đọan 1980-1999. Phía Bắc có vũ lượng tăng nhiều hơn phía Nam. Mực nước biển dâng cao 75 cm vào năm 2100 so với trung bình thời kỳ 1980-1999.

 

Các vùng trồng lúa quan trọng của Việt nam là ĐBSCL, ĐBSH và các dãy đất phù sa thấp dọc duyên hải miền Trung. Những vùng này chịu tác động nặng nề của nước biển dâng, nước mặn xâm nhập sâu do biến đổi khí hậu tòan cầu. Ở ĐBSCL lại càng nguy hiểm hơn vì là đồng bằng thấp trũng, bị ngập sâu và nước biển xâm nhập nặng nề. Nghiêm trọng hơn có rất nhìêu dự án sẽ xây đập chặn dòng sông Mê công trên thương nguồn và đã có một đập đi vào vận hành trong lãnh thổ Trung Quốc làm cho nước ở thượng nguồn đổ về hạ du ngày càng ít hơn nhất là trong mùa nắng làm cho nước mặn xâm nhập ngày càng sâu hơn vào trong đất liền.

 

Việt nam chúng ta chưa có nhiều số liệu khoa học như những nước khác nhưng có lẽ sẽ không khác nhiều so với Ấn Độ và Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng sản xuất lúa gạo tại châu Á có thể sẽ giảm 4% trong thế kỷ này. Ở Ấn Độ, nếu nhiệt độ không khí gia tăng 2oC, năng suất lúa sẽ giảm 0,75tấn/ha và tại Trung Quốc năng suất lúa nước trời sẽ giảm từ 5 đến 12%. Bốn mươi quốc gia vùng cận Sahara ở châu Phi sẽ giảm sản lượng cây lương thực lấy hạt từ 10 đến 20% do biến đổi khí hậu.

 

Chúng ta không nên khoanh tay ngồi chờ những nước phát triển đổ nguồn tài chính vào để chuộc lỗi do họ gây ra trong quá khứ mà chúng ta cùng chung tay với mọi tổ chức, mọi quốc gia trên thế giới để nổ lực bằng nhiều cách nhằm giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ảnh hưởng đến ngành trồng lúa nước tại Vịêt nam. Nổ lực của cộng đồng quốc tế cùng với nội lực chủ quan của chúng ta nhằm hạn chế sự xấm lấn của biển cả vào trong đất liền, xây đê vĩnh cửu ven biển, trồng băng rừng ngập mặn rộng bên ngoài đê để chắn sóng bảo vệ đê và góp phần hấp thụ CO2 giảm khí nhà kính. Các biện pháp khả thi là trồng cây gây rừng, tái tạo rừng, tăng cường mọi nổ lực chống phá rừng, kiến tạo ngành nông nghịêp dưới tán rừng, hạn chế mở rộng đất nông nghiệp vào trong đất rừng. Trong ngành trồng lúa, cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng để thích ứng với thực tế nước ngập sâu hơn và lâu hơn, diện tích đất bị nhiễm mặn nhiễm phèn rộng hơn. Tạo ra những giống lúa mới chống chịu mặn, phèn, ngập, nóng.

 

Giữ vững và phát triển ngành hàng lúa gạo cho Việt nam trong hòan cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng là một thách thức to lớn của cả dân tộc và cũng là một nhiệm vụ vô cùng vẽ vang. Làm được điều này có nghĩa là an ninh dinh dưỡng, an ninh lương thực quốc gia được đảm bảo, hạt gạo Vịêt nam với chất lượng ngày càng cao, thương hiệu ngày càng nổi tiếng vững bền sẽ làm ấm lòng những cộng đồng dân cư đang đói trên trái đất và là những sứ giả mang nền văn hóa Việt với nền văn minh lúa nước đến với mọi người trên thế giới.

 Mùa Xuân mới luôn mang đến cho đất nước Việt Nam nhiều hy vọng. Hy vọng chúng ta sẽ thích ứng được với bíên đổi khí hậu, nước biển dâng để duy trì những cánh đồng lúa bạt ngàn thẳng tắp, thể hiện bản lĩnh con người Việt nam hiện đại như đã từng thể hiện qua truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh đối với người Việt cổ hàng ngàn năm trước. 

 PGS.TS. Dương Văn Chín  

[Ghi chú: Bài này đã được đăng trên báo Nông nghiệp Việt nam, số Xuân Canh Dần, trang 52-53]

 
< Trước   Tiếp >
Thiet ke boi Phong Khoa hoc & HTQT, Vien Lua DBSCL
Xa Tan Thanh, Huyen Thoi Lai, TP Can Tho
Tel.: 0710 3861954; Fax: 0710 3861457; Email: clrri@hcm.vnn.vn
Phat trien tren nen Joomla!